About

Blog Archive

Lưu trữ Blog

Được tạo bởi Blogger.

Blogroll

 

Dịch thuật: Phụng Hoàng đài thượng ức xuy tiêu (Lí Thanh Chiếu)



凤凰台上忆吹箫
       香冷金猊 1, 被翻红浪 2, 起来慵自梳头. 任宝奁 3 尘满, 日上帘钩. 生怕离怀别苦, 多少事, 欲说还休. 新来瘦, 非干病酒, 不是悲秋.
休休 4! 5 回去也, 千万遍阳关” 6, 也则难留. 念武陵人远 7, 烟锁秦楼 8. 惟有楼前流水, 应念我, 终日凝眸. 凝眸处, 从今又添, 一断新愁.
                                                          (李清照)

PHỤNG HOÀNG ĐÀI THƯỢNG ỨC XUY TIÊU
          Hương lãnh kim nghê 1, bị phiên hồng lãng 2, khởi lai dung tự sơ đầu. Nhậm bảo liêm 3 trần mãn, nhật thướng liêm câu. Sinh phạ li hoài biệt khổ, đa thiểu sự, dục thuyết hoàn hưu. Tân lai sấu, phi can bệnh tửu, bất thị bi sầu.
          Hưu hưu 4! Giả 5 hồi khứ dã, thiên vạn biến “Dương quan” 6, dã tắc nan lưu. Niệm Vũ Lăng nhân viễn 7, yên toả Tần lâu 8. Duy hữu lâu tiền lưu thuỷ, ưng niệm ngã, chung nhật ngưng mâu. Ngưng mâu xứ, tùng kim hựu thiêm, nhất đoạn tân sầu.
                                                                                 (Lí Thanh Chiếu)

Chú thích
1- HƯƠNG LÃNH KIM NGHÊ 香冷金猊: hương liệu trong lư hương bằng đồng hình con sử tử đã cháy hết từ lâu.
          KIM NGHÊ: lư hương bằng đồng hình con sư tử.
2- BỊ PHIÊN HỒNG LÃNG 被翻红浪: chăn gấm màu đỏ trên giường không ngay thẳng, nhìn giống như những đợt sóng.
3- BẢO LIÊM 宝奁: hộp đựng đồ trang điểm sang trọng.
(Theo Lí Thanh Chiếu từ thưởng độc 李清照词赏读 của Từ Kiến Uỷ 徐建委 và Lưu Tranh 刘峥biên soạn, “bảo liêm” là “kính tử” 镜子(gương soi) – ND).
4- HƯU HƯU 休休: thôi, thôi.
5- GIẢ : ở đây dùng thông với chữ (giá) có nghĩa là đây, này.
6- “DƯƠNG QUAN” “阳关”: chỉ khúc tống biệt. Tức bài Tống Nguyên Nhị sứ An Tây 送元二使安西 của Vương Duy 王维, còn gọi là Dương quan tam điệp 阳关三叠, trong đó có câu:
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
Tây xuất Dương quan vô cố nhân
劝君更尽一杯酒
西出阳关无故人
Mời anh uống cạn thêm một li rượu nữa
Sau khi ra khỏi Dương quan sẽ không gặp được người quen
          Trong thơ tống biệt đời sau thường dùng điển này.
7- VŨ LĂNG NHÂN 武陵人: trong bài Đào hoa nguyên kí 桃花源记 của Đào Uyên Minh 陶渊明 kể câu chuyện về người đánh cá ở Vũ Lăng 武陵đi lạc vào suối hoa đào. Ở đây mượn chỉ người chồng đi xa.
8- TẦN LÂU 秦楼:  tức Phụng Hoàng đài, nơi ở của con gái Tần Mục Công 秦穆公 là Lộng Ngọc 弄玉 và Tiêu Sử 萧史 sau khi thành hôn trong truyền thuyết. Một đêm nọ, Tiêu Sử thổi tiêu gọi chim phụng đến, hai vợ chồng cưỡi phụng bay đi. Ở đây tác giả chỉ nơi ở của mình người đã đi chỉ còn lầu trống không.

Dịch nghĩa
PHỤNG HOÀNG ĐÀI THƯỢNG ỨC XUY TIÊU
          Hương trong lò hình con nghê đã tắt, tro đã lạnh, chăn màu đỏ dồn lại trên giường nhìn giống như những đợt sóng đỏ dâng tràn, sáng sớm sau khi thức dậy, không muốn soi gương chải tóc. Mặc cho hộp điểm trang bụi phủ đầy, mặc cho mặt trời lên cao chiếu vào rèm. Chỉ sợ nỗi cảm thương sầu khổ khi nghĩ đến biệt li, biết bao nhiêu chuyện muốn nói cùng ai, nhưng rồi lại thôi. Gần đây thân thể ngày càng gầy, không phải do uống nhiều rượu, cũng chẳng phải xúc cảnh bi thu.
          Thôi, thôi! Lần này chàng phải đi, cho dù hát lên ngàn vạn lần khúc “Dương quan” tống biệt, cũng không cách nào níu chân chàng được. Lường trước được sau khi chàng đi xa, chỉ còn riêng mình cô độc nơi lầu cao trống vắng. Chỉ có dòng nước trước lầu chảy lửng lờ, hoài niệm thiếp suốt ngày tựa lầu cao nhìn ra xa trông ngóng. Khi nhìn ra nơi xa trông ngóng, giờ lại thêm một khối sầu.

Dịch theo điệu từ
PHỤNG HOÀNG ĐÀI THƯỢNG ỨC XUY TIÊU
Tro lạnh lò hương
Chăn dồn sóng đỏ
Thức dậy lại biếng soi gương
Hộp điểm trang đầy bụi
Vầng nhật lên cao
Lòng sợ li hoài biệt khổ
Bao nhiêu chuyện
Muốn nói lại thôi
Giờ gầy hẳn
Không vì tại rượu
Chẳng phải bi thu

Thôi, thôi! Lần này đi mất
Muôn vạn khúc “Dương quan”
Cũng khó ngăn chàng
Nhớ Vũ Lăng người vắng
Khói phủ lầu Tần
Chỉ nước trước lầu tuôn chảy
Thương cảm thiếp
Sáng tối trông mong
Trông mong mãi
Từ nay lại thêm
Một khối ưu sầu.

                                Huỳnh Chương Hưng
                                Quy Nhơn 31/12/2012

Dịch từ nguyên tác Trung văn
PHỤNG HOÀNG ĐÀI THƯỢNG ỨC XUY TIÊU
凤凰台上忆吹箫
Trong quyển
TỐNG TỪ TAM BÁCH THỦ
宋词三百首
Biên soạn: Thượng Cương Thôn Dân 上彊村民
                                             Chú dịch: Lưu Văn Lan 刘文兰
Sùng văn thư cục, 2003.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét